Ý nghĩa tết cổ truyền Việt Nam xuân Tân Sửu

Ngày đăng:02-02-2021 |6:56 PM | 129 Lượt xem

 

Tết ?  Tết ? Tết ?

 

Ý nghĩa tết cổ truyền Việt Nam

Tết hay còn gọi là Tết cổ truyền của dân tộc luôn mang ý nghĩa rất sâu sắc. Tết là dịp để những người con xa quê đoàn tụ với gia đình. Chỉ những người châu Á mới “ăn Tết Nguyên Đán”.

Theo lịch sử Trung Quốc, Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Cách tính Tết từ tháng Giêng có từ thời nhà Hán dưới đời vua Hán Vũ Đế (năm 140 TCN). Đến đời Đông Phương Sóc, ngày Tết là từ ngày mùng một cho đến ngày mùng bảy tháng giêng (7 ngày).

Nguyên nghĩa của Tết là “Tiết”. Nền văn hóa Việt Nam thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước. Do nhu cầu canh tác nông nghiệp mà thời gian trong năm được phân chia thành 24 tiết khác nhau. Ứng với mỗi tiết có một thời khắc “giao thời”, trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được gọi là Tết Nguyên Đán.

Theo phong tục cổ truyền Việt Nam, Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình. Chiều 30 Tết, nhà nhà làm lễ “rước” gia tiên và gia thần, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm Tết đến, dù đang ở đâu, làm gì… hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

Ý nghĩa của ngày Tết

Người Việt ăn mừng Tết với niềm tin thiêng liêng: Tết là ngày đoàn tụ và là ngày của hi vọng. Nói Tết là ngày đoàn tụ của mọi gia đình bởi vì đây là nỗi mong mỏi của tất cả các thành viên trong gia đình, người đi xa cũng như người ở nhà đều mong dịp Tết để gặp mặt và quây quần cùng gia đình. Tết cũng là ngày đoàn tụ với người đã khuất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình theo Phật giáo đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên đã qua đời về ăn cơm Tết với các con các cháu.

Tết là ngày đầu tiên của năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và làm mới mọi việc. Việc làm mới có thể về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa nhà cửa. Hoặc làm mới về mặt tình cảm và tinh thần của con người, để mối liên hệ giữa người thân được cảm thông hơn hoặc để tinh thần được thoải mái, tươi mát hơn. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế giường tủ được lau chùi, phủi bụi. Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa gội đầu sạch sẽ, mặc quần áo mới bảnh bao. Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới để xả xui hay để tạo một sự tín nhiệm nơi người chủ nợ. Những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hoà với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối liên hệ được tốt đẹp.

Tết còn là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi, vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là chúc nhau thêm một tuổi mới. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ con và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi, còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được nhờ phúc.

Đón Xuân, Ăn Tết

TRẦM THIÊN THU

Người ta so sánh: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Đúng thật!

Không ai thấy Xuân sao lại đón? Chẳng ai thấy Tết sao lại ăn? Phải chăng Xuân ẩn hiện trong hoa Mai, hoa Đào,… được người ta “rước” vào nhà nên gọi là đón Xuân về? Những người ở xa trông mong ngày về quê đoàn tụ và luôn được người thân chờ đón về quây quần trong ngày Tết nên người ta gọi là đón Xuân. Có thể như vậy chăng?

Có phải Tết là bánh, mứt, kẹo, dưa hấu,… nên người ta mới có thể ăn Tết? Cũng có thể lắm.

Quả thật, khi Tết đến Xuân về, ngày xưa người Việt thường có truyền thống dùng câu đối:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ

Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Trong 6 món đó có 3 thứ ăn được: Thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh. Tết là thế nên người ta mới có thể ăn được chứ! Có 3 thứ không ăn được: Câu đối đỏ, cây nêu, tràng pháo. Ngày nay, 3 thứ không ăn được đã trở nên xa lạ, thậm chí giới trẻ có thể không biết rõ thế nào là câu đối đỏ, cây nêu, và tràng pháo.

Có nhiều thứ “sống” cùng ngày Tết cổ truyền và luôn hiện hữu trong những ngày tết, câu đối (vừa nêu trên) là một nét văn hóa khó phai mờ, vẫn có thể in đậm dấu ấn trong tâm thức người Việt, mặc dù có thể không hiểu nhiều về câu đối, nhưng chắc hẳn nhiều người còn thuộc lòng và hứng thú khi cần dẫn chứng câu đối đó.

Khó có thể xác định câu đối này ra đời từ khi nào, nhưng căn cứ theo những khái niệm được dùng chỉ vật trong đó thì có thể xác định câu đối kia phải bắt đầu từ lúc nước Việt có chữ viết và chắc chắn là chữ Hán, đặc biệt là khi dân gian có thú chơi câu đối Tết. Theo các văn bản tồn tại đều thống nhất tên gọi sáu thứ là danh từ, nhưng có một bản dùng “tiếng pháo” và một bản dùng “xác pháo” thay cho danh từ “tràng pháo”. Tiếng pháo, tràng pháo hoặc xác pháo thì cũng là pháo – cuộn giấy đỏ tròn và chắc, có thuốc nổ bên trong, có ngòi nổ, khi ngòi nổ được châm cháy thì sẽ nổ “banh xác pháo”.

Xét về ngữ âm, có sự “đối nhau” gần chỉnh tuyệt đối: “Trắc trắc, bằng bằng, bằng trắc trắc” đối với “bằng bằng, bằng trắc, trắc bằng bằng”. Nếu vế hai dùng chữ “xác” hoặc “tiếng” thay cho “tràng” thì đối âm chỉnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cuộc đời chẳng có gì hoàn chỉnh tuyệt đối. Tương đối cũng là tốt lắm rồi!

Có sáu yếu tố được lựa chọn tiêu biểu cho hương vị Tết. Trong đó có ba yếu tố vật chất (thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh) là những thứ ăn được. Kèm theo ba yếu tố tinh thần (câu đối đỏ, cây nêu, tràng pháo) là những thứ không ăn được. Đó là sự cân đối và hài hòa tạo nên số sáu (lục), mà chữ “lục” được phát âm tương tự chữ “lộc”, tức là Lộc Xuân được trời đất trao tặng, nghĩa là âm dương hòa hợp.

Hai màu xanh và đỏ là những sắc màu nổi bật và sinh động trong mùa Xuân vui tươi, đồng thời có cả tiếng pháo nổ, tạo âm thanh giòn giã như tiếng reo vui giữa đất trời bao la. Còn “câu đối đỏ” chính là “góc trí tuệ” và cần thiết cho tâm hồn. Chỉ có vật chất mà không có tâm hồn thì vô nghĩa. Đúng như Khổng Tử nói: “Ưa làm điều nhân mà không ham học thì bị cái mối hại che lấp thành ra ngu muội”. Vừa thực tế vừa thâm thúy!

Yếu tố tâm linh là “cây nêu”. Ngày nay hầu như dân gian không còn quan tâm. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp, ngày Táo quân cưỡi Cá Chép về trời. Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5-6m. Ở ngọn thường treo nhiều thứ: Bùa trừ tà, vàng mã, bầu rượu bện bằng rơm, cá chép giấy (cho ông Táo bay lên trời), giải cờ vải điều, những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung (gọi là chuông gió),…

Buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Trịnh Hoài Đức ghi trong sách Gia Định Thành Thông Chí thế này: “Bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm), mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu, cau, vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là “lên nêu”… có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ”. Ngày 7 tháng Giêng, người ta “hạ nêu” (triệt hạ), người Việt kiêng đòi nợ người khác để tạo mối quan hệ tốt đẹp ấm cúng của cộng đồng trong những ngày vui Xuân. Cây nêu còn có nghĩa là “cột mốc”, là ranh giới ma quỷ không được xâm phạm theo giao kèo giữa loài người với chúng.

Câu đối mang đậm dấu ấn của cộng đồng cư dân làm nghề lúa nước theo âm lịch với văn hóa ẩm thực là sản phẩm nuôi trồng và thú chơi trí tuệ tao nhã của một thời “mực Tàu giấy đỏ”, cùng với tín ngưỡng dân gian mang tính truyền thuyết.

Điều đó chứng tỏ con người rất tâm linh, ngay cả những người vô tín ngưỡng hoặc không theo tôn giáo nào cũng vẫn mang dấu ấn tâm linh vậy. Nếu không tâm linh sao lại cúng tổ tiên và rước ông bà về cùng ăn tết?

Năm mới khởi đầu, ai cũng muốn “đêm ba mươi, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa”, và “sáng mồng một, giơ tay bồng ông Phú vào nhà”. Không chỉ vậy, cuộc đời còn cần phải sống với những từ kép bắt đầu bằng chữ T, biểu hiện những đức tính: Tích cực, Tin kính, Tha thứ, Thương yêu, Tiết kiệm, Từ tốn, Tu thân, Tĩnh tâm, Tu nghiệp, Trầm tĩnh, Thỏa hiệp, Thoải mái, Thánh thiện, Tự trọng và Tôn trọng người khác,…

Mùa Xuân vừa về thì cũng là lúc mùa Chay tiếp đến, đặc biệt là chúng ta đang sống trong Năm Thánh Lòng Thương Xót: “Hãy nhân từ như Chúa Cha – Misericordes sicut Pater” (Lc 6:36). Với người Á Đông, đó là sự nối kết kỳ lạ. Mừng Xuân và vui Tết, nhưng phải luôn ghi nhớ “mình là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3:19). Ăn chay cũng phải khéo léo, nội tại quan trọng hơn ngoại tại: “Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng họa” (Ge 2:13).

Đặc biệt là Chúa Giêsu đã căn dặn kỹ lưỡng và rõ ràng: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6:16-18).

Nào, chúng ta cùng đón Xuân, cùng ăn Tết, nhất là phải một lòng tôn kính Thiên Chúa là Chúa Tể Càn Khôn, là Chúa Xuân đích thực, và yêu thương mọi người trong tình huynh đệ liên đới!

 

 

Mùa Xuân về, Mùa Chay đến

TRẦM THIÊN THU

Bốn mùa Chúa đổ Hồng Ân

Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi

(Tv 65:12)

Mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong bốn mùa, cả về màu sắc và thời tiết. Mùa Xuân không nóng bức và hanh khô như mùa Hạ, không se lạnh và bâng khuâng như mùa Thu, không băng giá và buồn bã như mùa Đông. Trái ngược với các mùa khác, mùa Xuân ấm áp, màu sắc tươi đẹp, ngàn hoa khoe sắc, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi vật sinh động, đất trời bừng sáng, mùa chim chóc làm tổ, mùa đôi lứa xây tổ uyên ương,… Do đó, mùa Xuân còn được mệnh danh là Mùa Yêu Thương, Mùa Đoàn Tụ, Mùa Hạnh Phúc.

Với người Công giáo, mùa Xuân còn là mùa Chay. Thế gian có BỐN mùa, Kitô hữu chúng ta có CHÍN mùa – bốn mùa của đất trời và năm mùa phụng vụ (mùa Chay, mùa Phục Sinh, mùa Vọng, mùa Giáng Sinh, và mùa Thường Niên). Độc đáo quá!

Ai cũng mong chờ Mùa Xuân, và ai cũng chộn rộn vui mừng khi đón Xuân về, lúc chào Tết đến. Với tâm tình phấn khởi đó, NS Minh Kỳ (*) đã sáng tác nhạc phẩm “Xuân Đã Về” rất phổ biến từ hơn nửa thế kỷ qua. Ca khúc này được viết ở nhịp 2/4, âm thể Ré Trưởng (D), với tiết tấu đơn giản nhưng vẫn tạo được nét độc đáo.

NS Minh Kỳ chứng tỏ Mùa Xuân thực sự đã về tràn ngập trên quê hương Việt Nam: “Xuân đã về, Xuân đã về, kìa bao ánh Xuân về tràn lan mênh mông”. Không chỉ đơn giản vậy, ông dẫn chứng thêm rất cụ thể: “Trên cánh đồng, chim hót mừng, đang thướt tha từng đàn tung bay vui say”.

Và còn nữa, ông so sánh ngàn hoa nở tươi thắm như những đôi môi cười rạng rỡ: “Xuân đã về, Xuân đã về, ngàn hoa hé môi cười vui đón gió mới”. Nghệ sĩ có khác, nhìn thấy cái mà người ta không thấy, cách so sánh rất hay và tượng hình. Đúng là Xuân đã về thật, thế nên chúng ta cũng hãy mau ca vang để mừng Xuân mới: “Xuân đã về, Xuân đã về, ta hát vang lên câu ca mừng chào Xuân”.

Xuân về có khác. Tất cả như được thay da đổi thịt, người và vật đều tươi mới: “Nhìn trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp cười trông xinh như hoa, lập lòe tà áo xanh xanh chen bông tím vàng đẹp hơn tiên nga, và bầy em bé rúc rích, khúc khích tiếng cười rủ nhau vui ca, từng đàn chim non xinh xinh tung bay khắp trời cùng ríu rít ca”. Xuân tuyệt vời thật, Tết vui ơi là vui! Thảo nào người ta vẫn ví von: “Vui như Tết”.

Ngày xưa, người ta không chỉ ca hát để mừng Xuân mà còn có tiếng pháo vang rền suốt mấy ngày Tết, hầu như nhà nào cũng đốt pháo, chí ít cũng là một bánh pháo (tràng pháo ngắn khoảng 40 cm) để mừng Xuân: “Một bài ca đón chào mừng hòa theo tiếng pháo đì đùng, mừng Xuân nay đã về rồi và Đông đã vừa qua”. Tiếng pháo khiến lòng người rạo rực, có buồn thế nào cũng cảm thấy vui lây. Mừng lắm, nam phụ lão ấu đều vui hớn hở, chỗ nào cũng nghe người ta nói nói cười cười râm ran như pháo nổ: “Ngập trời bao tiếng chào mừng, nàng Xuân duyên dáng về rồi, về gieo bao thắm tươi vui, lòng ta thấy yêu đời”. Nhà giàu còn đốt pháo khi hết Tết, gọi là “đốt tết”.

Mùa Xuân khiến người ta vui hơn, tin tưởng hơn, yêu đời hơn, thông cảm cho nhau hơn, thương mến nhau hơn. Đôi khi Xuân có vẻ đến sớm, nhưng không bao giờ đến muộn. Xuân về rồi, Tết đến rồi, hãy vui ca và chúc mừng nhau những điều tốt đẹp nhất, người ơi!

Xuân đã về, và Chúa Xuân đã đến qua việc Ngài nhập thế và nhập thể làm người để cứu độ nhân loại, khởi đầu từ Belem – và sẽ dẫn tới Gôngôtha. Mùa Xuân vừa về thì mùa Chay cũng chợt đến. Đón Xuân, ăn Tết, vui mừng tưng bừng, nhưng người Công giáo vẫn không được quên việc sám hối để khả dĩ hưởng nhờ Lòng Chúa Thương Xót mà được cứu độ, được trường sinh bất tử, được làm công dân Nước Trời, và mãi mãi được hưởng Mùa Xuân Vĩnh Cửu là Thiên Đàng. Mùa Chay đến có vẻ u buồn trong sắc Tím, nhưng vẫn tràn trề niềm hy vọng: Hy vọng được hưởng Ơn Cứu Độ.

Chúng ta cùng nhau “hát dâng Chúa những bài thánh vịnhthánh thi vàthánh ca do Thần Khí linh hứng” (Cl 3:16) để tôn vinh Thiên Chúa, và cũng là để mừng Xuân vui Tết bằng đức tin. Nhưng chúng ta vẫn phải tin cậy vào Ngài, vì Đức Kitô đã nói: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5). Dù có tội lỗi đến đâu cũng đừng quên điều quan trọng này: “Hãy tin vào Thiên Chúa!” (Mc 11:22; Ga 14:1).

Thật vậy, đừng tự mãn vì mình là “chiên ngoan”, nhưng cũng đừng mặc cảm tội lỗi mà tuyệt vọng, vì “dù tội đỏ như son cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều cũng hoá trắng như bông” (Is 1:18). Máu và Nước của Chúa Giêsu sẽ tẩy sạch tất cả, chỉ với điều kiện duy nhất: Sám hối chân thành.

Chúc Mừng Năm Mới an khang, thịnh vượng, hạnh phúc, tấn tài, tấn lộc, và chúc Mùa Chay thánh đức trong niềm tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”.

 

Mùa Xuân và Mùa Chay – 2015

______________________________

(*) Minh Kỳ (1930-1975) tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, gốc Huế, sinh tại Nha Trang, Khánh Hòa. Theo gia phả hoàng tộc triều Nguyễn, Minh Kỳ là cháu 5 đời của Vua Minh Mạng. Năm 1959, ông vào định cư tại Saigon. Tại đây ông cùng với Anh Bằng, Lê Dinh lập nên nhóm Lê-Minh-Bằng (Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng). Thời đó ông là đại uý cảnh sát, sau 30-4-1975, ông bị bắt đi cải tạo và bị chết oan vì lựu đạn vào khuya ngày 31-8-1975.

Ông có một số ca khúc tiêu biểu: Bao Giờ Em Lấy Chồng (viết chung với NS Hoài Linh), Biệt Động Quân, Biệt Kinh Kỳ (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyến Tàu Hoàng Hôn (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyện Hai Người (viết chung với NS Hoài Linh), Chỉ Có Một Người, Đừng Quên Nhau (viết chung với NS Mạnh Phát), Mưa Trên Phố Huế (phổ thơ Tôn Nữ Thụy Khương), Mưa Buồn (viết chung với NS Hoài Linh), Mây Trắng Biên Thùy (viết chung với NS Y Vân), Năm Cụm Núi Quê Hương, Người Em Vỹ Dạ, Lá Rụng Hoàng Hôn, Lời Mẹ Tôi, Sầu Tím Thiệp Hồng (viết chung với NS Hoài Linh), Từ Giã Kinh Kỳ, Thương Về Xứ Huế,…

Thưởng thức ca khúc Xuân Đã Về: http://www.youtube.com/watch?v=g__aPkF0nsg

XUÂN MẸ TẾT CON

 

Con an tâm vì con luôn có mẹMẹ lì xì cả đời mẹ cho conĐời có Tết khi đời có mùa XuânKhi có mẹ, cả đời con là Tết

TRẦM THIÊN THU

 

TÂM TƯ TẾT

TRẦM THIÊN THU

Tân Sửu Niên – 2021

▶ Xuân Thương Xót – https://youtu.be/iWqqCSYPLyc Cả Năm Cố Gắng Mong Ghép Chữ Tết Suốt Kiếp Miên Man Ước Xuôi Vần Xuân Không biết có được cài đặt mặc định hay không mà rất nhiều chữ bắt đầu bằng mẫu tự T, và có nhiều chữ mang ý nghĩa thâm thúy – cả nghĩa tích cực và tiêu cực. Chữ Tết cũng bắt đầu bằng mẫu tự T nên cũng có Tâm Tư theo kiểu Tự Tình hoặc Tâm Tình. Người vui vẻ thì Tết Thích Thú, người ưu sầu thì Tết Tội Tình.

Dù thế nào thì cũng vẫn có khởi đầu và kết thúc – hai “mối” của thế sự. Có đầu thì có cuối. Cuối ngày. Cuối tháng. Cuối năm. Khuya. Vắng. Lặng. Khoảng thời gian kỳ lạ. Thi thoảng gió lùa qua cửa sổ phả vào. Cảm giác cuối năm rất lạ. Cuối trời xa, vầng trăng khuyết e ấp nhìn có vẻ hờ hững và lạnh lùng. Vạt sương bâng khuâng lờ lững giữa không gian bao la. Cõi lòng lắng đọng, xa vắng… Không dưng chợt thèm ngụm cà-phê.

Khoảng lòng vời vợi. Tiếng côn trùng hòa tấu giai điệu không tên mặc vẻ bí ẩn. Trang viết bất động, có vẻ lạnh cóng như chiếc độc bình ở góc bàn phủ đầy bụi thời gian, nụ mai xanh chưa nở sắc vàng…

Không gian tĩnh lặng. Cõi lòng vẫn có những con sóng xô mãi, tưởng chừng xô tới cõi vô biên. Sóng không tên. Nhớ và quên. Quên và nhớ. Con người luôn mâu thuẫn, đôi khi không muốn thúc thủ mà vẫn đành khoanh tay. Hàm số buồn khó tìm được ẩn số. Quỹ tích đam mê và lũy thừa gian truân vô cực. Số phận con người bọt bèo và khoảng trăm năm nghiệt ngã quá. Thập Giá nào cũng thô ráp, không bóng láng, chẳng êm ái, rất khó vác.

Mang thân phận bụi tro, con người không ngừng khao khát và khắc khoải: “Tôi là ai mà còn trần tục quá?” Phải chăng hạt-bụi-tôi kết tụ bởi tội lỗi và đam mê nên cứ đắm chìm trong dòng lãng mạn? Ai cũng khát vọng tìm được chính mình để khả dĩ nhận diện và nhận thức. Chưa gặp hay không nhận ra mình vì mù quáng? Giai điệu âm u nào đó cứ mênh mang, và vần điệu không tên nào đó cứ níu kéo mãi mà không chịu buông tha. Người ta trẻ mãi – nghĩa là không già nua, chỉ có thời gian mới lão hóa. Thời gian già nua đến nỗi khiến người ta quên cả chính mình, cứ ngỡ mình là ai đó. Đó là một dạng ảo giác, thế nên người ta sợ mình già mà đi tân trang, bổ sung, làm đẹp,… Ai cũng có những lúc “điên” mặc dù vẫn tỉnh giữa cuộc đời này. Nhưng tất cả cũng vô ích mà thôi!

Ai cũng có khoảng ký ức và hoài niệm, chúng cứ giành nhau với kỷ niệm. Cđôi khi có những nỗi nhớ vu vơ, đằng đẵng, nhức buốt, vút cao như ngọn tháp chót vót, vừa kỳ diệu vừa ảo mộng. Cuộc đời như kim tự tháp, càng muốn thoát ra càng lạc sâu vào mê cung. Vòng đời luẩn quẩn như tấm lưới, con cá giẫy giụa tìm lối thoát đến nỗi đuối sức mà không thoát ra được. Không bi quan mà vẫn ôm nỗi sầu tưởng chừng vô vọng. Vết thời gian hóa thành trầm tích. Có sự giằng co liên lỉ giữa cái muốn và cái không muốn.

Cứ đều đặn rơi xuống một tờ lịch, rồi một tờ lịch khác lại rơi xuống… Thời gian cứ giảm bớt những khoảng 24 giờ. Tiếng thời gian vẫn vô tình gõ nhịp. Một, hai, ba… Không giờ. Những cái mới đang khởi đầu mà những cái cũ chưa muốn chia tay. Bịn rịn và nuối tiếc những gì còn dang dở. Động từ khiếm khuyết và vẫn sử dụng thì tương lai – xa và gần…

Ước gì thời gian ơi không bao giờ vùi dập ước mơ của con người, để không ai nản chí sờn lòng, không ai thất vọng, vẫn khát vọng và không ngừng vươn lên – dù cho có thể niềm hy vọng nào đó không viên mãn, thậm chí có thể không hiện thực, nhưng ai cũng đủ cảm nhận và hiểu rằng thành công tùy vào mức độ vươn lên từ đống-xà-bần cao ngất với nhiều hoài bão, từ những gì chưa trọn vẹn, để khả dĩ ngay trong bất khả dĩ. Trong cuộc sống, mặc dù có những lúc thất vọng nhưng cố gắng đừng bao giờ tuyệt vọng! Nỗ lực bình tĩnh để duy trì sự bình an trong tâm hồn. Vấn đề quan trọng: Dù chưa viết xong trang đời nhưng đừng hạn hán hy vọng và thiện chí. Hãy sống cho, sống với và sống vì… Dấn thân vô vị lợi, nhiệt thành vô điều kiện, cảm thông và vị tha để có niềm hạnh phúc sống động ngay trong giây phút hiện tại. Thật chí lý với nhận định của Albert Einstein: “Chỉ có cuộc sống luôn sống cho người khác mới đáng sống.”

Riêng người viết cảm thấy mình như một “viên đá cuội” đã và đang lăn mòn trên những con dốc đời, có băn khoăn, có lo lắng, nhưng vẫn cố gắng tự lăn, không quá chú ý tới việc mình có lăn hết con đường mơ ước hay không, mà quan trọng là còn lăn hay không. Tôi muốn hoàn tất hồ-sơ-cuộc-đời với khả năng riêng mà Thiên Chúa trao ban, chắc chắn có nhiều trang chưa thể hoàn tất, vẫn đầy trăn trở, bao nổi trở trăn đan xen vào nhau. Đó cũng là một hệ lụy, một phạm trù riêng trong triết-lý-khổ-đau. Tôi muốn sử dụng nó có ý nghĩa bằng cách cố gắng đi xuyên qua nó. Văn hào Victor Hugo nói: “Đừng khi nào cười kẻ đau khổ, và đôi khi nên đau khổ với kẻ đã cười.” Khổ đau là con đường dẫn đến hạnh phúc, bởi vì chỉ có khổ đau thì người ta mới cảm nhận được thế nào là hạnh phúc và với mức độ lớn hay nhỏ. Thiên Chúa làm chủ mọi sự, trong đó có thời gian. Mặc dù thời gian không thuộc quyền hạn của con người, nhưng ai cũng được hưởng quỹ thời gian đồng đều – không thiếu một phút, không hụt một giây. Với quỹ thời gian đó, có người dùng làm điều ác, có người dùng làm điều thiện, có người lãng phí, có người sinh lợi, có người muốn “giết” thời gian, có người lại tranh thủ,… Mức độ và cách thức khác nhau. Phúc và họa là do chính mình qua việc sử dụng thời gian. Có vẻ bình thường mà khác thường, thậm chí ảnh hưởng đến những vấn đề quan trọng khác – cả đời thường và tâm linh.

Thật kỳ diệu đối với thời gian, vì thời gian là lúc Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi chúng ta ăn năn sám hối để kịp trở lại với Ngài trước khi quá muộn. Mỗi mùa đều có đặc điểm và đặc tính riêng. Thánh Lm Padre Piô (Năm Dấu) nhận xét: “Mùa Đông cần thiết để chúng ta tập từ bỏ mình và có cả ngàn lẻ một nhân đức mà chúng ta phải thực hành trong thời gian cằn cỗi đó.” Mùa Hạ nóng bức để người ta nhận biết sự dịu mát và lãng mạn của mùa Thu, mùa Đông giá rét và hanh hao để người ta cảm nhận sự ấm áp và tươi trẻ của mùa Xuân. Mùa Đông cằn cỗi là điểm kết thúc một chuỗi thời gian cũ, để rồi mùa Xuân tươi mát là khởi điểm một chuỗi thời gian mới. Thiên Chúa an bài thật kỳ diệu, chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi!

Mở ra, đóng lại. Đầu năm, cuối năm. Trong đó có khoảng giao mùa Đông – Xuân. Giã từ năm cũ, tống khứ chuyện buồn, để nghinh đón năm mới và niềm vui mới. Đất trời giao thừa và lòng người cũng giao thừa… Hạnh phúc trào dâng, đan quyện, không thể không chia sẻ cho nhau nên mọi người chúc nhau: “Chúc mừng Năm Mới.” Lạy Chúa Xuân vĩnh hằng, xin tha thứ, tiếp nhận và thánh hóa đời tội-nhân-con. Người mẹ đã hoài thai con trong tội lỗi, (Tv 50) nhưng con vững tin rằng “cây lau bị giập, Ngài không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, Ngài chẳng nỡ tắt đi,” (Mt 12:20) và vì chính Ngài đã “đến để tìm và cứu những gì đã mất.” (Lc 19:9) Con đau yếu nên rất cần thầy thuốc, (Mt 9:12; Mc 2:17; Lc 5:31) xin cứu chữa con. Vì cuộc khổ nạn đau thương của Chúa Giêsu Kitô, xin Cha thương xót con và toàn thế giới. Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài – Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

 

ĐỖ MAI

Đỗ Mai hay Điệp Anh ĐàoCho đời bóng mát, thân cao, cành dàiNhẹ nhàng màu sắc Đỗ MaiChùm hoa nở dọc cành cây lạ lùngNét hoa tươi tắn, dịu dàngTrần đầy sức sống, ước mong tràn trềĐỗ Mai có nghĩa lạ kỳMang điều may mắn đến cho cuộc đờiLá và hoa lợi cho ngườiĂn và làm thuốc, tuyệt vời biết bao!Đỗ Mai hoa nở thật nhiềuTrùng vào dịp Tết, đẹp màu sắc Xuân

TRẦM THIÊN THUTân Xuân Tân Sửu – 2021

TRÂU XƯA TRÂU NAY

Trâu xưa vất vả cả ngàyTrâu nay nhàn hạ, chẳng cày bừa chiTrâu xưa nhai mớ rơm khôTrâu nay gặm cỏ xanh rì thật ngonTrâu xưa lặng lẽ âm thầmTrâu nay cứ ngỡ là thần, là tiênTrâu xưa chẳng dám bon chenTrâu nay hống hách, nổi điên bất ngờTrâu xưa cực khổ bốn mùaTrâu nay thanh thản, chẳng lo chủ hànhTrâu xưa không dám tranh giànhTrâu nay sung sướng được dành phần riêngTrâu xưa là vật bình thườngTrâu nay là vật linh thiêng của người

TRẦM THIÊN THU

TẾT XƯA XUÂN NAY

Tết xưa pháo nổ đì đùngXuân nay phét lác nổ tung đất trờiTết xưa nhộn nhịp khắp nơiXuân nay chẳng có mấy người mừng vuiTết xưa thăm viếng nhiều ngườiXuân nay thiên hạ nói: “Xui thí mồ!”Tết xưa bánh, mứt tha hồXuân nay hóa chất khiến lo sợ nhiềuTết xưa thanh thản sớm chiềuXuân nay nhiều kẻ chơi liều đỏ đenTết xưa hạnh phúc bình anXuân nay ngay ngáy lo đêm, lo ngàyTết xưa vui vẻ sum vầyXuân nay ngỡ cắn ớt cay quá chừngTết xưa ai cũng ấm lòngXuân nay thiên hạ lạnh lùng nhìn nhauTết xưa tựa khúc ca daoXuân nay như bị nốc-ao (knock-out) bất ngờTết xưa nhớ mãi đến giờXuân nay lạc lõng, ngu ngơ lạ kỳTết về rồi Tết lại điXuân sang rồi cũng lại xa mọi ngườiMiên man ký ức một thờiThôi thì thời thế, thì thôi cũng đành!Con chim vẫn hót trên cànhChia Xuân sẻ Tết thắm tình với nhauDù không máu mủ gì đâuNhưng vẫn đồng bào, dân tộc Việt Nam

TRẦM THIÊN THU

XUÂN Ý

Chúc vạn sự như ýMỗi thứ được một tíChứ đừng có tham lamNhư vậy mới hợp lý

Chúc kiên tâm vững chíĐó là điều đáng quýChúc công việc hanh thôngXuôi xắn, không bị bí

Chúc thi tứ, nhạc ýChân chất theo chân lýKhông khoe mẽ, khoe khoangKhông lắm lời, lắm lý

Chúc Xuân vui thỏa chíTết tưng bừng hoan hỉRượu tình nghĩa đậm đàNhưng đừng say túy lúy

Chúc công bình, công lýKhông giả hình, ích kỷKhông gian dối, kiêu kỳCùng ăn Tết hoan hỉ

Chúc tuân hành Thánh ÝCả xác thân, tâm tríLuôn mến Chúa, yêu ngườiBỏ mình, bỏ ma quỷ

TRẦM THIÊN THU Tân Xuân Tân Sửu – 2021

 

TẾT THƠ

Ầu ơ… Bé ngủ cho ngoanMơ Tết đến gần, Xuân cũng ngất ngâyẦu ơ… Bé ngủ cho sayNgủ trên kiến thức – điều hay, điều lànhNhư chim non ngủ trên cànhTuổi thơ giản dị giữa tình Xuân tươiẦu ơ… Tết đến nơi rồiBé ngoan, mẹ dẫn đi chơi Xuân nàyGia đình hạnh phúc sum vầyChúa vẫn thương hoài tuổi nhỏ đơn sơChúc lành cho mọi trẻ thơAi như con trẻ sẽ vô Nước TrờiXin cho trẻ nhỏ mọi nơiKhông bị lây nhiễm xấu xa của đời

TRẦM THIÊN THU Tân Sửu Niên – 2021

VĨNH XUÂN

Mùa Xuân đẹp nét tinh khôiMai vàng óng ả tô đời nhân gianMùa Xuân êm ả bình anChập chờn Bướm lượn giữa miền thi caXin cho thế giới an hòaHạnh phúc mọi nhà, ai cũng xót thươngBa ngày Tết cũng sẽ dừngNhưng Tình Xuân vẫn thắm nồng suốt nămCái gì cũng sẽ lãng quênYêu thương còn mãi, mãi Xuân tuyệt vờiCó Thiên Chúa, Tết có hoàiMất Thiên Chúa, trắng cuộc đời. Uổng công!Tết trần gian cũng là khôngTết Thiên Quốc mới vĩnh hằng Xuân vui

TRẦM THIÊN THU Tân Sửu Niên – 2021

NHỮNG KIẾP HOA XUÂN

Con người có nhiều loại người (tốt, xấu), nhiều dáng người (cao, thấp, mập, gầy), nhiều tính người (hiền, dữ), nhiều kiếp người (sướng, khổ, may mắn, bất hạnh),… Và hoa cũng có nhiều loại hoa, với hương sắc khác nhau. Kiếp người đa dạng, thì kiếp hoa cũng vậy, có loại “sống mãi” (hoa bất tử), có loại sớm nở chiều tàn (hoa phù dung),…

Mùa Xuân là mùa “trăm hoa đua nở.” NS Anh Bằng đã viết ca khúc “Những Kiếp Hoa Xuân,” và ông “mượn” những cánh hoa để nói về những kiếp người. Nói đến chữ “kiếp” thì thường có gì đó đượm buồn, có lẽ vì vậy mà ông viết ca khúc này ở âm thể Thứ, có thể đệm đàn bằng điệu Tango. Giai điệu buồn mà lạ, sâu lắng.

Ông đặt mình vào vị trí của một người đang đứng giữa mùa Xuân: “Tôi buồn đứng trông hoa cười, hoa nào duyên không lả lơi, không thẹn thùng trước gió xuân tươi, không đậm đà giữa nắng xuân vui, không say mộng đời?” Vâng, chắc hẳn hoa nào cũng thế. Cũng vậy, người con gái nào cũng đầy nữ tính, cũng hãnh diện về “nét riêng” của mình. Nàng Kiều có nét của nàng Kiều, bà Trưng có nét của bà Trưng, bà Triệu có nét của bà Triệu, Thị Nở có nét của Thị Nở, chẳng ai giống ai, và “nét riêng” ấy không thể lẫn lộn với ai được.

Nhưng ông nói rất lạ: “Phương trời cố hương xa vời, Xuân về cho hoa tả tơi.” Xuân về mà hoa tả tơi ư? Sao lại khốn khổ thế nhỉ? Đúng thôi, lý do là thế này: “Hoa lạnh lùng sống với đơn côi, chôn cuộc đời khép kín đôi môi,” và vì vậy mà “hoa chẳng còn tươi.” Hoa không còn tươi là hoa héo úa, hoa tàn tạ, vậy là hoa tả tơi rồi!

Đóa hoa đó không là thực vật mà là một con người, một cô gái đang độ xuân thì: “Anh ơi, em là hoa hoa biết nói, giữa tuổi xuân thắm tươi, vẫn không yêu kiếp người.” Một cô gái trẻ mà lại thiếu sức sống, đầy chán nản, không thấy yêu đời. Lý do cũng đơn giản thôi: “Anh đi trong ngày Xuân hay bóng tối, hồn em như chới với, mắt em như lệ rơi.” Ngày Xuân mà không được ở gần người yêu, buồn lắm thôi! Không biết chàng người yêu giờ ra sao, còn cô nàng cảm thấy chới với và chỉ chực khóc. Tội nghiệp cô nàng!

Mùa Xuân về, ngày Tết đến, nhưng cô gái chưa thấy mùa Xuân, chưa cảm nhận được Tết. Cô gái thổ lộ: “Xin mượn tiếng ca u hoài, cung đàn yêu thương người ơi!” Tiếng ca dù buồn nhưng là cung đàn yêu thương tha thiết của người con gái xuân thì đang yêu, khao khát cháy bỏng. Chính cung thương điệu sầu đó là dấu ấn tình yêu của cô nàng và anh chàng trong thời chiến: “Ghi tình sầu đất nước chia đôi, ghi tình đời những cánh hoa rơi, ghi cả tình tôi.” Cô gái yêu thật, thương thật, và nhớ thật. Cái tương tư có mà như không, vô hình mà như hữu hình, thực tế mà như ảo tưởng. Lạ thật! Ước gì đừng ai phải cách xa khi tình yêu đã lên ngôi thực sự!

Sách Huấn Ca gọi đời người là “kiếp người khốn khổ.” Có một số câu điển hình:

– Kể từ khi từ lòng mẹ sinh ra cho đến lúc trở về lòng đất mẹ, mang thân phận con người, ai cũng canh cánh bên lòng một nỗi lo, là con cháu Ađam, nợ phong trần đương nhiên phải trả. (Hc 40:1)

– Điều không ngừng ám ảnh khiến lòng người sợ hãi âu lo là cứ phải nghĩ rằng mình đang chờ chết. Từ bậc vua chúa trên ngai vinh hiển đến kẻ cùng đinh chân lấm tay bùn, từ người cân đai áo mão đến kẻ khố rách áo ôm, ai cũng đều giận dữ, ghen tương, đều băn khoăn, lo lắng, rồi sợ chết, rồi hận thù cãi cọ. (Hc 40:2-4)

– Mọi xác phàm, từ người đến vật, nhưng quân tội lỗi thì gấp bảy lần, không làm sao tránh khỏi: chết chóc và đổ máu, cãi cọ và đâm chém, hoạn nạn, đói kém, đổ nát, tai ương. (Hc 40:8-9)

– Rượu và nhạc khiến lòng người phấn khởi, nhưng lòng mến đức khôn ngoan vẫn đáng quý hơn. Tiếng sáo, tiếng đàn khiến giọng hát du dương, nhưng lời nói dịu dàng còn êm tai hơn nữa. (Hc 40:20-21)

– Vẻ đẹp và duyên dáng làm người ta thích nhìn, nhưng cánh đồng xanh mướt còn đáng nhìn hơn. (Hc 40:22)

– Có anh có em là để giúp nhau khi hoạn nạn, nhưng của bố thí còn trợ giúp đắc lực hơn. Có bạc, có vàng là an tâm vững chí, nhưng được người góp ý còn quý giá hơn. (Hc 40:24-25)

– Giàu sang và sức mạnh khiến người ta tin tưởng, nhưng lòng kính sợ Đức Chúa còn trổi vượt hơn. Có lòng kính sợ Đức Chúa thì chẳng thiếu gì. Kính sợ Chúa rồi, không cần phải cầu cứu ai nữa. (Hc 40:26)

– Con ơi, đừng đi ăn xin để sống: thà chết còn hơn! (Hc 40:28)

– Kẻ nhìn trộm mâm người khác, có sống cũng kể như chẳng sống ra người. Vì đứa ăn bám làm mình ra nhơ nhớp; còn người hiểu biết và có giáo dục thì sẽ không xử sự như thế. Miệng đứa ăn xin ngọt như mía lùi, nhưng tâm địa hắn thì như lò lửa. (Hc 40:29-30)

Thân phận con người “bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về,” (Tv 38:79) mẫu số chung của nhân loại là “cất tiếng khóc, tiếng đầu đời của bất cứ một ai.” (Kn 7:3) Khổ thật!Vì thế, chúng ta phải nhận ra mình và cầu xin Thiên Chúa: “Thân phận con khốn khổ nghèo hèn, xin mau đến cùng con, lạy Thiên Chúa! Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con, muôn lạy Chúa, xin đừng trì hoãn.” (Tv 70:6) Và như thế thì an tâm mà sống, cứ vui Xuân và ăn tết, vì Đức Giêsu luôn đồng hành với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28:10)

Xin tạ ơn và chúc tụng Thiên Chúa!

TRẦM THIÊN THU

 

Chia sẻ
Từ khóa

Ý kiến phản hồi