Tông Huấn “Niềm Vui Tin Mừng” (Evangelii Gaudium)

Ngày đăng:15-05-2014 |11:27 PM | 943 Lượt xem
TÔNG HUẤN “NIỀM VUI TIN MỪNG” (EVANGELII GAUDIUM)

 
 
MỞ ĐẦU

1. Niềm Vui Tin Mừng tràn ngập tâm hồn và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giê-su. Những ai chấp nhận ân ban cứu độ của Người thì được thoát khỏi tội lỗi, nỗi buồn phiền, sự trống rỗng và nỗi cô độc nội tâm. Với Đức Giê-su Ki-tô, niềm vui thường hằng tái sinh. Trong Tông Huấn này, tôi mong ước khuyến khích các Ki-tô hữu dấn thân vào một chương mới của công cuộc Phúc Âm Hóa được ghi dấu bằng một niềm vui, trong khi vạch ra những lộ trình cho cuộc hành trình của Giáo Hội trong những năm sắp tới.

I.NIỀM VUI MỚI MÃI, NIỀM VUI ĐƯỢC CHIA SẺ

2. Thế giới ngày nay, một thế giới chỉ còn biết hưởng thụ, có nguy cơ rất lớn gây nên cảnh cô đơn và xao xuyến phát sinh từ một tâm hồn tự mãn và tham lam, từ cuộc hăm hở đuổi theo những thú vui phù phiếm và từ một lương tâm không còn nhạy bén nữa. Hễ khi nào đời sống nội tâm của chúng ta bị vướng mắc vào những tư lợi, thì không còn chỗ cho tha nhân nữa, không còn chỗ cho người nghèo. Người ta không còn nghe được tiếng Thiên Chúa, không còn cảm thấy tình yêu của Ngài, và lòng ước muốn làm điều thiện phai nhạt dần. Đó cũng là mối nguy hiểm rất thực đối với các tín hữu. Nhiều người sa vào chước cám dỗ này để rồi biến mình thành những người bất mãn, giận dữ và thiên lệch. Đó không là một cuộc sống xứng đáng và sung mãn, đó không là ước muốn của Thiên Chúa dành cho chúng ta, đó cũng không là đời sống trong Chúa Thánh Thần tuôn chảy từ Thánh Tâm của Đức Ki-tô Phục Sinh.
3. Tôi mời gọi hết mọi Ki-tô hữu, ở bất cứ nơi nào và ngay vào thời điểm này, đích thân gặp gỡ Chúa Giê-su Ki-tô thêm một lần nữa, hay ít ra mở rộng lòng mình để cho Người gặp gỡ mình; tôi xin tất cả anh chị em hãy bền tâm vững chí làm như vậy mỗi ngày. Xin đừng ai nghĩ rằng lời mời gọi này không có ý nghĩa gì đối với mình, bởi vì “không ai bị khai trừ khỏi niềm vui Chúa mang đến”. [1] Chúa không để cho ai mạnh dạn đến với Người mà phải thất vọng cả, hễ khi nào chúng ta bước một bước đến với Chúa Giê-su, chúng ta nhận ra rằng Người luôn luôn ở đó rồi, mở rộng vòng tay chờ đón chúng ta. Đây là giây phút để thân thưa với Đức Giê-su: “Lạy Chúa, con đã để cho mình bị lừa dối; bằng muôn ngàn cách con đã lãng tránh tình yêu của Chúa, nhưng con ở đây một lần nữa để làm mới lại giao ước của con với Chúa. Con cần Chúa. Xin cứu con một lần nữa, Lạy Chúa, xin đón nhận con một lần nữa trong vòng tay cứu độ của Chúa”. Thật tốt đẹp biết bao được trở lại với Chúa mỗi khi chúng ta lầm đường lạc lối! Tôi xin nhắc lại một lần nữa: Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta mà không hề biết chán, chính chúng ta mới cảm thấy chán khi cầu xin lòng thương xót của Ngài. Đấng bảo chúng ta hãy tha thứ cho nhau đến “bảy mươi lần bảy” (Mt 18: 22) chính Người nêu gương cho chúng ta: Chúa tha thứ bảy mươi lần bảy. Hết lần này đến lần khác, Người vác chúng ta trên đôi vai êm ái của Ngài. Không ai có thể lấy đi khỏi chúng ta phẩm giá mà tình yêu vô hạn và bền vững này ban cho chúng ta. Với một tấm lòng trìu mến không bao giờ làm cho chúng ta thất vọng nhưng luôn luôn hoàn lại niềm vui cho chúng ta, Chúa cho phép chúng ta ngẩng cao đầu và bắt đầu lại. Chúng ta đừng chạy trốn sự Phục Sinh của Chúa Giê-su, chúng ta đừng bao giờ bỏ cuộc, điều gì đến rồi sẽ đến. Không có gì khơi nguồn hứng khởi ngoài sự sống của Người thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước!
4. Các sách Cựu Ước đã loan báo rằng niềm vui cứu độ sẽ tràn ngập vào thời Thiên Sai. Ngôn sứ I-sai-a hân hoan chào mừng Đấng Thiên Sai mà muôn người đợi trông: “Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng” (Is 9: 2). Và ngôn sứ khuyến khích dân cư Xi-on đón mừng Người trong tiếng reo vui: “hãy reo hò mừng rỡ” (Is 12:6). Ngôn sứ bảo những kẻ đã nhìn thấy Người ở chân trời hãy loan tin vui cho những người khác: “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh” (Is 40:9). Mọi loài thụ tạo được dự phần vào niềm vui cứu độ: “Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo, vì Đức Chúa đã an ủi dân Người đã chọn và chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người” (Is 49: 13).
Trông chờ Ngày của Chúa, Ngôn sứ Da-ca-ri-a kêu mời dân chúng tung hô Đức Vua đang đến, “khiêm tốn, cỡi trên con lừa”“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng” (Dr 9:9). Tuy nhiên, lời mời gọi gây phấn chấn nhất chắc hẳn là của ngôn sứ Xô-phô-ni-a, vị ngôn sứ này giới thiệu Thiên Chúa với dân Ngài trong bầu khí lễ hội tưng bừng niềm vui cứu độ. Đọc lại bản văn này, tôi gặp thấy niềm phấn khởi tràn ngập cõi lòng: “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là Vị cứu tinh, là Đấng anh hùng. Vì ngươi, Chúa sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi. Vì ngươi, Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội” (3: 17).
Đây là niềm vui mà chúng ta trải nghiệm hằng ngày giữa những điều nho nhỏ của cuộc sống, như một lời đáp trả trước lời mời gọi chan chứa yêu thương của Thiên Chúa là Cha chúng ta: “Con ơi, hãy làm cho đời con được tốt đẹp...Đừng từ chối không hưởng một ngày vui” (Hc 14: 11, 14). Tình phụ tử chất chứa biết bao ân tình vang dội ở nơi những lời này!
5. Rạng ngời ánh vinh quang Thập Giá của Đức Ki-tô, Tin Mừng thường hằng mời gọi chúng ta hãy vui lên. Xin đan cử vài thí dụ là đủ: “Mừng vui lên” là lời sứ thần chào Đức Maria (x. Lc 1:28). Chuyến viếng thăm của Đức Ma-ri-a đến nhà bà Ê-li-sa-bét khiến thánh Gioan nhảy mừng trong dạ mẹ (x. Lc 1:41). Trong Bài Ca Ngợi Khen, Đức Ma-ri-a công bố: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi” (Lc 1: 47). Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người, thánh Gioan cất cao giọng: “Đó là niềm vui của tôi, niềm vui ấy bây giờ đã trọn vẹn” (Ga 3: 29). Chính Chúa Giê-su “hớn hở vui mừng trong Thánh Thần” (Lc 10: 21). Sứ điệp của Người đem đến cho chúng ta niềm vui: “Thầy nói với anh em những điều này ngỏ hầu niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn” (Ga 15: 11). Niềm vui Ki-tô của chúng ta múc tận nguồn mạch tâm hồn ngập tràn niềm vui của Người. Người hứa với các môn đệ: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (Ga 16: 20). Đoạn, Người nói tiếp: “Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy mất được”(Ga 16: 22). Sau đó, các môn đệ “vui mừng” vì được thấy Chúa Ki-tô sống lại (Ga 20: 20). Trong sách Công Vụ Tông Đồ, chúng ta đọc thấy những Ki-tô hữu tiên khởi“dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (Cv 2: 46). Các môn đệ này đi đến đâu “người ta rất vui mừng” đến đó (8: 8); và ngay cả giữa cảnh bách hại, họ “được tràn đầy hoan lạc” (13: 52). Một viên quan thái giám, vừa chịu phép rửa, tiếp tục cuộc hành trình, “lòng đầy hoan hỷ” (8: 39); viên cai ngục và cả nhà “vui mừng vì đã tin Thiên Chúa” (16: 34). Tại sao chúng ta cũng không hòa mình vào dòng thác tuôn tràn niềm vui này nhỉ?
6. Có những Kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Mùa Phục Sinh. Dĩ nhiên, tôi nhận ra rằng niềm vui không được diễn tả theo cùng một cung bậc ở mọi lúc trong cuộc đời, đặc biệt vào những thời điểm khốn đốn. Niềm vui thích nghi và biến đổi nhưng luôn tồn tại, thậm chí như một tia sáng phát sinh từ một sự chắc chắn của chính mình rằng, nói cho thật rốt ráo, Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô bờ bến. Tôi hiểu nỗi buồn phiền của những người phải chịu nhiều đau khổ, chúng ta phải để niềm vui đức tin hồi sinh tuy chầm chậm nhưng chắc chắn, như một niềm tín thác thầm lặng nhưng vững vàng, ngay cả giữa nỗi buồn phiền lớn lao nhất:“Hồn tôi hết được bình an thư thái, tôi đã quên mùi hạnh phúc rồi!...Đây là điều con suy đi gẫm lại, nhờ thế mà con vững dạ cậy trông: Lượng từ bi Đức Chúa đâu đã cạn, lòng thương xót của Ngài mãi không vơi. Sáng nào Ngài cũng ban ân huệ mới. Lòng trung tín của Ngài cao cả biết bao!...Biết thinh lặng đợi chờ, đợi chờ ơn cứu độ của Đức Chúa, đó là một điều hay” (Ai Ca 3: 17, 21-23, 26).
7. Đôi khi chúng ta bị cám dổ biện bạch và than trách, hành xử như thử chúng ta chỉ có thể hạnh phúc nếu như hàng ngàn điều kiện được giải quyết. Ở một mức độ nào đó, đây là vì “xã hội kỹ thuật của chúng ta đã gia tăng muôn vàn cơ hội lạc thú, nhưng rất khó phát sinh niềm vui”. [2] Tôi có thể nói rằng những cách thế diễn tả niềm vui đẹp nhất và tự nhiên nhất mà tôi thấy trong đời tôi là ở nơi những người rất nghèo, họ có rất ít để bám víu vào. Tôi cũng nghĩ về niềm vui đích thực được biểu lộ ở nơi những người khác, những người, dù ở giữa những bổn phận nghề nghiệp cấp bách, đã có thể gìn giữ một tâm hồn đầy tin tưởng, trong tinh thần siêu thoát và lối sống giản dị. Theo cách thế riêng của mình, tất cả những mẫu người tràn đầy niềm vui này múc lấy từ nguồn tình yêu vô tận của Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra cho chúng ta nơi Đức Giê-su Ki-tô. Tôi lặp đi lặp lại những lời này của Đức Bê-nê-đic-tô XVI mà không bao giờ biết chán, những lời dẫn chúng ta đến trọng tâm Tin Mừng: “Khởi đầu cho cuộc sống Ki-tô hữu không phải là một quyết định đạo đức hay một tư tưởng vĩ đại, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, với một Con Người, Đấng đem lại cho đời sống chúng ta một chân trời mới và từ đó một định hướng dứt khoát”. [3]
8. Chỉ nhờ vào cuộc gặp gỡ này - hoặc cuộc tái ngộ - với tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu nẩy nở thành một tình bạn phong phú, mà chúng ta được giải thoát khỏi đầu óc hẹp hòi và tấm lòng vị kỷ. Chúng ta trở nên con người sung mãn khi chúng ta trở nên con người hơn, khi chúng ta để cho Chúa dẫn dắt mình vượt qua bản thân mình để đạt đến chân lý sung mãn nhất về con người mình. Ở đó chúng ta gặp thấy nguồn hứng khởi cho những nổ lực của chúng ta vào công cuộc Phúc Âm Hóa. Vì nếu chúng ta đã nhận được tình yêu phục hồi ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta, làm thế nào chúng ta không thể chia sẻ tình yêu đó với người khác được chứ?

II. NIỀM VUI HẾT SỨC THÚ VỊ VÀ ĐẦY AN ỦI TRONG CÔNG CUỘC PHÚC ÂM HÓA

9. Sự thiện luôn luôn có khuynh hướng lan tỏa. Mỗi kinh nghiệm đích thực về sự thật và sự thiện tự bản chất có sức mạnh lớn lên trong chúng ta, và bất kỳ ai đã kinh qua một cuộc giải phóng sâu xa thì trở nên nhạy bén hơn với những nhu cầu của người khác. Khi sự thiện trương rộng, nó bén rễ và phát triển. Nếu chúng ta muốn sống một cuộc đời xứng đáng và sung mãn, chúng ta phải vươn tới người khác và tìm kiếm sự thiện ở nơi họ. Về mặt này, vài câu nói của thánh Phao-lô sẽ không làm cho chúng ta ngạc nhiên: “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng ta” (2 Cr 5: 14), “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!” (1 Cor 9: 16).
10. Tin Mừng dâng hiến cho chúng ta cơ hội sống cuộc đời ở tầm mức cao hơn, nhưng không kém đòi hỏi. “Sự sống lớn lên khi được cho đi và bị suy yếu trong cô lập và tiện nghi. Thực ra, những người hưởng được niềm vui cuộc đời nhất là những người gạt sự an toàn của mình sang một bên và cảm thấy niềm phấn khởi trong sứ vụ thông truyền sự sống cho tha nhân”. [4] Khi mời gọi người Ki-tô hữu đảm nhận công cuộc Phúc Âm Hóa, Giáo Hội không có ý gì khác ngoài việc nhắm đến nguồn sung mãn đích thật của mỗi người: “Ở đây chúng ta khám phá một quy luật sâu sắc về thực tại: đời sống đó đạt được và trưởng thành theo mức độ mà nó được hiến dâng trọn vẹn để ban sự sống cho tha nhân. Chắc chắn, đây là ý nghĩa của sứ vụ”. [5] Vì thế, một nhà loan báo Tin Mừng đừng bao giờ mang bộ mặt đưa đám. Chúng ta hãy hồi sinh và đào sâu lòng nhiệt thành, “niềm vui thú vị và an ủi của công cuộc Phúc Âm Hóa, ngay cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt...Và ước gì thế giới hôm nay đang tìm kiếm trong lo âu hoặc hy vọng, có thể đón nhận Tin Mừng, không phải từ những nhà rao giảng buồn bã hay thất vọng, bồn chồn hay lo âu, nhưng từ những thừa tác viên của Tin Mừng có đời sống đầy nhiệt thành vì đã đón nhận niềm vui của Đức Kitô và chấp nhận xem thường mạng sống để cho Nước Trời được rao giảng và Giáo Hội được ăn sâu vào giữa lòng thế giới. [6]

Sự mới mẻ vĩnh cửu
11. Công việc tái rao giảng có thể dâng hiến cho các tín hữu, cũng như những người nguội lạnh hoặc những người hữu danh vô thực, một niềm vui mới trong đức tin và một thành quả trong công cuộc Phúc Âm Hóa. Trọng tâm sứ điệp sẽ mãi vẫn là như thế: Thiên Chúa, Đấng đã mặc khải tình yêu bao la của Ngài nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh và sống lại. Ngài thường hằng đổi mới các tín hữu của Ngài, dù họ ở độ tuổi nào đi nữa: “Được thêm sức mạnh, như thể chim bằng, họ tung cánh, họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40:31). Đức Ki-tô là “Tin Mừng vĩnh cửu” (Kh 14: 6), và Người vẫn là một “hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13: 8), nhưng sự phong phú và vẻ đẹp của Người thì vô tận. Người vẫn trẻ mãi và nguồn tươi trẻ thường hằng. Giáo Hội không ngừng kinh ngạc trước “sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào!” (Rm 11: 33). Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Bề dày của sự khôn ngoan và hiểu biết của Thiên Chúa quá sâu và quá rộng, đến nỗi linh hồn, dù có đạt được sự hiểu biết về nó đến mức độ nào đi nữa, vẫn luôn có thể đắm chìm sâu xa hơn nữa trong đó”.[7] Hoặc, như thánh I-rê-nê khẳng định: “Qua việc Người đến, Đức Ki-tô đem theo với Người tất cả sự mới mẻ”.[8] Với tính mới mẻ này, Người luôn luôn có khả năng đổi mới cuộc đời chúng ta và cộng đồng chúng ta, và ngay cả khi sứ điệp Ki-tô giáo, dù trải qua những thời kỳ đầy bóng tối và những yếu đuối của Giáo Hội, nhưng không bao giờ trở nên xưa cũ. Đức Giê-su Ki-tô có thể phá vỡ các phạm trù nhàm chán mà chúng ta muốn giam hãm Người vào đó và Người thường hằng khiến chúng ta ngạc nhiên với khả năng sáng tạo thần linh của Người. Mỗi khi chúng ta nổ lực trở về nguồn để hồi sinh sự tươi mát ban đầu của Tin Mừng, thì những lối ngõ mới xuất đầu lộ diện, những nẻo đường đầy sáng tạo mở ra, các hình thức diễn tả đa dạng, những dấu chỉ hùng hồn hơn, những ngôn từ chất nặng ý nghĩa mới mẻ cho thế giới ngày nay được nẩy sinh. Mỗi hình thức Phúc Âm Hóa đích thực vẫn luôn luôn là “mới mẻ”.
12. Dù sứ vụ này thật sự đòi hỏi chúng ta phải có một tấm lòng độ lượng, nhưng thật là sai lầm khi coi nó như một nhiệm vụ anh hùng cá nhân, vì tiên vàn chính là công việc của Chúa, vượt xa bất cứ điều gì chúng ta có thể nhìn thấy và hiểu được. Chúa Giê-su là “Nhà loan báo Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất”. [9] Trong mỗi lãnh vực Phúc Âm Hóa, quyền tối thượng luôn luôn thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài và tiếp tục dẫn dắt chúng ta bằng quyền năng Thánh Thần của Ngài. Sự mới mẻ thực sự là sự mới mẻ mà Thiên Chúa đích thân tạo ra, khơi nguồn hứng khởi, tác động, hướng dẫn và đồng hành cách mầu nhiệm theo hàng ngàn cách thế. Đời sống Giáo Hội phải luôn luôn bày tỏ rõ ràng rằng Thiên Chúa khởi xướng, “Ngài đã yêu chúng ta trước” (1Ga 4: 19) và chỉ một mình Ngài “làm cho lớn lên” (1Cor 3: 7). Niềm xác tín này giúp chúng ta duy trì tinh thần vui tươi giữa nhiệm vụ quá đòi hỏi và quá thách đố đến mức nó chiếm trọn cuộc đời chúng ta. Ngài đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta, nhưng đồng thời cũng ban mọi sự cho chúng ta.
13. Chúng ta cũng không nên hiểu sự mới mẻ của sứ vụ này như bắt phải nhổ tận gốc rễ hay  quên sạch lịch sử sống động chung quanh chúng ta và chuyển chúng ta sang một trang mới. Ký ức là một chiều kích đức tin của chúng ta mà chúng ta có thể gọi là “Đệ Nhị Luật”, tương tự như ký ức của chính dân Ít-ra-en. Chúa Giêsu trối lại cho chúng ta bàn tiệc Thánh Thể như Giáo Hội hằng ngày tưởng niệm và dự phần cách mật thiết hơn vào biến cố Vượt Qua của Người (x. Lc 22: 19). Niềm vui loan báo Tin Mừng mãi mãi tỏa sáng từ cuộc tưởng niệm tạ ơn: đó là ân sủng mà chúng ta cần phải thường hằng cầu xin. Các Tông Đồ không bao giờ quên thời điểm mà Chúa Giê-su chạm vào tâm trí các ông: “Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (Ga 1: 39). Cùng với Chúa Giê-su, cuộc tưởng niệm này hiện tại hóa một “đám mây nhân chứng”  (Dt 12: 1). Vài người trong số đó, chúng ta vui sướng nhắc lại: “Anh em hãy nhớ đến những người lãnh đạo đã rao giảng lời Chúa cho anh em” (Dt 13: 7). Vài người trong số họ đã là những người tín hữu bình thường, thân cận với chúng ta, dẫn đưa chúng ta vào đời sống đức tin: “Tôi hồi tưởng lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh” (2 Tim 1: 5). Người tín hữu cốt yếu là “một người tưởng niệm”.

III.TÂN PHÚC ÂM HÓA ĐỂ TRUYỀN ĐẠT ĐỨC TIN

14. Chú ý đến ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần, Đấng giúp chúng ta cùng nhau đọc ra những dấu chỉ thời đại, Đại Hội Thượng Hội Đồng Giám Mục Thường Kỳ lần thứ XIII được nhóm họp từ ngày mùng 7 đến ngày 28 tháng 10 năm 2012 để bàn về chủ đề: “Tân Phúc Âm Hóa để truyền đạt Đức Tin Ki-tô giáo”. Thượng Hội Đồng Giám Mục tái khẳng định rằng công cuộc Tân Phúc Âm Hóa là lời mời gọi được gởi đến hết mọi người và được thực hiện trong ba môi trường chính. [10]
Trước tiên, chúng ta có thể kể ra lãnh vực mục vụ thông thường, lãnh vực này “được ngọn lửa Chúa Thánh Thần làm sinh động, để đốt lòng các tín hữu, những người thường xuyên tham dự việc thờ phượng cộng đồng và tụ họp vào Ngày của Chúa để Lời Chúa và Bánh Hằng Sống đời đời nuôi dưỡng mình”. [11] Trong phạm trù này, chúng ta cũng có thể bao gồm các tín hữu gìn giữ một đức tin sâu xa và chân thành, được diễn tả theo những cách thế đa dạng, nhưng ít khi tham dự việc thờ phượng. Công việc mục vụ này nhằm giúp các tín hữu lớn lên trong đời sống tâm linh ngỏ hầu họ có thể đáp trả Tình Yêu Thiên Chúa càng ngày càng sung mãn hơn trong cuộc sống của họ.
Lãnh vực thứ hai là lãnh vực của “những người đã được rửa tội nhưng không sống những đòi hỏi của Bí Tích Rửa Tội”, [12] những người thiếu mối dây liên hệ có ý nghĩa với Giáo Hội và không còn nghiệm thấy niềm an ủi phát sinh từ đức tin. Trong mối quan tâm của tình mẫu tử, Giáo Hội cố giúp họ trải nghiệm một cuộc hoán cải đem lại niềm vui đức tin cho tâm hồn họ và khơi nguồn hứng khởi cho việc dấn thân sống Tin Mừng.
Cuối cùng, chúng ta không thể nào quên rằng công cuộc Phúc Âm Hóa tiên vàn bàn về công việc loan báo Tin Mừng cho “những người không biết Đức Giê-su Ki-tô hoặc luôn luôn từ chối Người”. Nhiều người trong họ đang tìm kiếm Thiên Chúa trong thầm lặng, bị thúc đẩy bởi niềm ao ước được thấy thánh nhan Ngài, ngay cả ở những quốc gia thuộc truyền thống Kitô giáo cổ kính. Mọi người đều có quyền đón nhận Tin Mừng. Các Ki-tô hữu có bổn phận công bố Tin Mừng mà không loại trừ bất kỳ ai. Thay vì có vẻ áp đặt những bổn phận mới, họ phải như những người ao ước chia sẻ niềm vui của mình, chỉ rõ một chân trời đẹp và mời gọi những người khác dự phần vào bàn tiệc tuyệt hảo. Giáo Hội không tăng trưởng nhờ việc cải đạo nhưng “bởi sức hấp dẫn”.[13]
15. Đức Gioan Phaolô II kêu mời chúng ta nhận thức rằng “không được giảm bớt lòng hăng say rao giảng Tin Mừng” cho những người ở xa Đức Kitô, “bởi vì đây là trách nhiệm hàng đầu của Giáo Hội”.[14] Hoạt động truyền giáo “ngày nay vẫn là thách đố lớn nhất đối với Giáo Hội” [15] và “nhiệm vụ truyền giáo vẫn phải đứng hàng đầu”.[16] Điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng ta thực sự tiếp nhận cách nghiêm túc những lời này? Chúng ta sẽ đơn giản nhận ra rằng hoạt động truyền giáo là mẫu thức cho tất cả mọi hoạt động của Giáo Hội. Theo dòng tư tưởng này, các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh nói rằng “Chúng ta không thể ngồi chờ cách thụ động và bình thản trong các dinh thự Giáo Hội”; [17] nhưng cần phải chuyển mình từ “một mục vụ chỉ đơn thuần là duy trì đến một mục vụ vươn ra truyền giáo”. [18] Nhiệm vụ này tiếp tục là nguồn vui bao la cho Giáo Hội: “Trên trời cũng sẽ vui mừng như thế vì một người tội lỗi ăn năn trở lại, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải ăn năn hối cải” (Lc 15:7).

Phạm vi và giới hạn của Tông Huấn này
16. Tôi sẵn lòng chấp nhận lời thỉnh cầu của các Nghị Phụ để viết Tông Huấn này.[19] Khi làm như vậy, tôi đang gặt hái những thành quả phong phú từ công lao của Thượng Hội Đồng. Thêm nữa, tôi đã tham khảo ý kiến từ một số người và tôi có ý định bày tỏ những nỗi bận lòng riêng của tôi về chương đặc thù này, chương bàn về công cuộc Phúc Âm Hóa của Giáo Hội. Có vô vàn vấn đề liên quan đến công cuộc Phúc Âm Hóa ngày nay có thể được thảo luận ở đây, nhưng tôi đã chọn là không khảo sát tỉ mỉ nhiều vấn nạn cần nhiều thời gian để suy nghĩ và để nghiên cứu sâu xa hơn nữa. Tôi cũng không tin rằng người ta nên mong đợi từ Huấn Quyền Giáo Hoàng một lời dứt khoát hoặc đầy đủ về những vấn nạn có tầm ảnh hưởng đến Giáo Hội và thế giới. Đức Giáo Hoàng không nên thay thế các Giám Mục địa phương trong việc phân định mỗi vấn đề phát sinh ở nơi lãnh thổ của các ngài. Theo chiều hướng này, tôi cảm thấy cần phải xúc tiến một “sự phân quyền” lành mạnh.
17. Ở đây, tôi đã chọn đưa ra vài chỉ dẫn có thể khuyến khích và hướng dẫn toàn thể Giáo Hội trong một giai đoạn mới về công cuộc Phúc Âm Hóa đầy nhiệt thành và năng động. Trong bối cảnh này, và theo giáo huấn Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium, tôi đã quyết định, trong số những chủ đề khác, bàn luận thấu đáo những vấn nạn dưới đây:
a) Việc cải tổ Giáo Hội trong việc “vươn ra” truyền giáo.
b) Các chước cám dỗ mà những người làm việc mục vụ phải đối mặt.
c) Giáo Hội được hiểu như toàn thể Dân Chúa loan báo Tin Mừng.
d) Bài giảng và việc chuẩn bị bài giảng.
e) Việc hòa nhập người nghèo vào xã hội.
f) Hòa bình và đối thoại trong lòng xã hội.
g) Các động lực thần linh cho sứ vụ.
18. Những chủ đề tôi khai triển xem ra quá mức. Tuy nhiên tôi làm thế, không nhằm ý định cung cấp một khảo luận rốt ráo, nhưng đơn giản như một cách thế bày tỏ những hàm ý thực hành quan trọng cho sứ vụ ngày nay của Giáo Hội. Tất cả chúng giúp định hướng cho một kiểu mẫu Phúc Âm Hóa dứt khoát mà tôi mời anh chị em thừa nhận trong mỗi hoạt động mà anh chị em đảm nhận. Theo cách thế này, chúng ta có thể tiếp nhận, trong những nổ lực hàng ngày của mình, lời khuyến dụ Kinh Thánh: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” (Ph 4: 4).

CHƯƠNG I
SỰ BIẾN ĐỔI SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI

19. Công cuộc Phúc Âm Hóa tuân theo lệnh truyền loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rử cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28: 19-20a). Lệnh truyền này được đưa ra vào thời điểm Chúa Phục Sinh sai những kẻ thuộc về Người ra đi loan báo Tin Mừng ở mọi thời đại và ở mọi nơi, ngõ hầu đức tin vào Người được lan tràn khắp cõi thế.

I. MỘT GIÁO HỘI “RA ĐI” 

20. Lời Chúa thường hằng chỉ cho chúng ta thấy Thiên Chúa thách đố những ai tin vào Ngài như thế nào và ra đi như thế nào. Ông Áp-ra-ham đã nhận được lời mời gọi ra đi đến một vùng đất mới (x. St 12:1-3). Ông Mô-sê đã nghe tiếng Chúa gọi: “Hãy đi, Ta sai ngươi!” (Xh 3:10) và đã dẫn dắt dân Chúa trên đường hướng về Đất Hứa (x. Xh 3:17). Với ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa phán: “Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi” (Gr 1:7). Trong thời đại chúng ta, lệnh truyền “ra đi và thu nạp các môn đệ” của Chúa Giê-su vang dội trong những cảnh trí thay đổi và trong những thách đố mới mãi đối với sứ vụ Phúc Âm Hóa của Giáo Hội, và tất cả chúng ta được mời gọi dự phần vào sứ vụ “ra đi” mới này. Mỗi Ki-tô hữu và mỗi cộng đồng phải phân định đường đi nước bước mà Chúa vạch ra, nhưng tất cả chúng ta đều được yêu cầu vâng theo tiếng gọi của Người là ra đi khỏi khu vực tiện nghi của mình để đến mọi vùng ngoại vi đang cần ánh sáng Tin Mừng.
21. Niềm vui Tin Mừng làm sinh động cộng đồng các môn đệ là một niềm vui truyền giáo. Bảy mươi hai môn đệ đã cảm thấy lòng tràn ngập niềm vui khi họ trở về từ sứ vụ của mình (x. Lc 10:17). Chúa Giêsu đã cảm thấy như vậy khi Người đã hớn hở vui mừng trong Chúa Thánh Thần và chúc tụng Chúa Cha vì đã mặc khải cho những người nghèo hèn và những người bé mọn (x. Lc 10:21). Những người trở lại đầu tiên đã cảm thấy điều này, họ đã kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các Tông Đồ rao giảng “bằng tiếng bản xứ của mình” (Cv 2: 6) vào ngày lễ Ngũ Tuần. Niềm vui này là một dấu chỉ cho thấy rằng Tin Mừng đã được công bố và đang sinh hoa kết trái. Tuy nhiên lòng hăm hở ra đi và cho đi, ra khỏi chính mình, vừa tiến bước vừa gieo hạt giống vẫn mãi mãi là hiện tại. Chúa phán, “Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó” (Mc 1: 38). Mỗi khi hạt giống đã được gieo ở một nơi, Chúa không nán lại để giải thích hoặc thực hiện các dấu lạ thêm nữa; Thần Khí đã dẫn Người ra đi đến các làng mạc khác.
22. Lời Chúa tự nó có quyền năng mà chúng ta không thể dự đoán được. Tin Mừng nói về hạt giống, một khi được gieo, thì nó tự mọc lên, ngay cả khi người nông dân ngủ (x. Mc 4:26-29). Giáo Hội chấp nhận sự tự do bất khả kiểm soát này của Lời Chúa, nó thành tựu điều nó muốn ngoài những tính toán và những cách thế tư duy của chúng ta.
23. Mối thân tình của Giáo Hội với Chúa Giêsu có chung một cuộc hành trình; “hiệp thông và sứ vụ có mối dây liên kết sâu xa”. [20] Nếu muốn trung thành noi gương Thầy, Giáo Hội ngày nay phải coi việc ra đi loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, trong mọi cơ hội, không do dự, không chần chờ và sợ hãi có tầm mức quan trọng sống còn của mình. Niềm Vui Tin Mừng dành cho tất cả mọi người, không ai có thể bị khai trừ. Đó là sứ điệp các thiên sứ đã báo tin cho các mục đồng ở Bêlem: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2: 10). Sách Khải Huyền nói về “một Tin Mừng vĩnh cửu để loan báo cho các người ở trên mặt đất, cho mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi nước” (Kh 14: 6).

Khởi xướng, dấn thân, đồng hành, sinh hoa trái và ăn mừng
24. Giáo Hội “ra đi” là cộng đồng các môn đệ truyền giáo, tức là những người khởi xướng, dấn thân, đồng hành, sinh hoa trái và ăn mừng. Một cộng đồng loan báo Tin Mừng biết rằng Chúa đã khởi xướng, Người đã yêu chúng ta trước (x. 1Ga 4: 10), và vì thế, chúng ta có thể tiến bước, dạn dĩ khởi xướng, lên đường đến người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đến ngã ba đường và đón chào những người bị ruồng bỏ. Cộng đồng như thế rất muốn bày tỏ lòng xót thương, thành quả kinh nghiệm của chính mình về lòng thương xót vô hạn của Chúa Cha. Chúng ta hãy đi bước trước và “dấn thân” hơn nữa. Chúa để cho mình dính líu vào khi Người cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Người bảo các môn đệ: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Ga 13:17). Cộng đồng loan báo Tin Mừng phải liên đới với người khác trong cuộc sống hằng ngày qua lời nói và việc làm; cộng đồng lấp đầy những khoảng cách, tự hạ mình nếu cần, và ôm trọn cuộc sống nhân loại vào vòng tay rộng mở, chạm đến thân xác đau khổ của Đức Ki-tô ở nơi người khác. Vì thế, các nhà loan báo Tin Mừng mang lấy “mùi của chiên” và chiên nghe tiếng họ. Cộng đồng loan báo Tin Mừng cùng chung nhịp bước với nhân loại trong tất cả mọi tiến trình của nó, bất kể khó khăn và kéo dài đến đâu đi nữa. Cộng đồng thân quen với viễn cảnh kiên trì và chịu đựng trong công việc tông đồ. Công cuộc Phúc Âm Hóa chủ yếu cần lòng kiên nhẫn và coi thường những thúc ép thời gian. Một cộng đồng loan báo Tin Mừng luôn luôn quan tâm đến thành quả, bởi vì Thiên Chúa muốn họ phải “sinh hoa kết trái”. Cộng đồng chăm lo các hạt giống và không trở nên nôn nóng trước cỏ lùng. Người gieo giống, khi thấy cỏ lùng mọc lên giữa những cây lúa, không oán trách hay cường điệu. Người ấy gặp thấy một cách thế để Lời Chúa được nhập thể trong một hoàn cảnh cụ thể và sinh hoa kết quả của đời sống mới, cho dù những thành quả này dường như chưa hoàn hảo và đầy đủ. Người môn đệ có thể hiến trọn cuộc đời mình, thậm chí chấp nhận tử vì đạo, như một nhân chứng của Chúa Giê-su Ki-tô, tuy nhiên không nhằm gây thù kết oán, mà đúng hơn là thấy Lời Chúa được đón nhận và được hiển lộ ở nơi quyền năng giải phóng và canh tân. Cuối cùng, cộng đồng loan báo Tin Mừng đầy tràn niềm vui, luôn luôn biết “ăn mừng”. Cộng đồng ăn mừng (cử hành) về mỗi một chiến thắng nhỏ, mỗi một bước tiến trong công cuộc Phúc Âm Hóa. Công cuộc Phúc Âm Hóa đầy niềm vui trở thành vẻ đẹp trong phụng vụ, là một phần mối bận lòng của chúng ta, đó là lan tỏa điều thiện. Giáo Hội Phúc Âm hóa người khác, đồng thời để cho Phúc Âm Hóa chính mình qua vẻ đẹp của phụng vụ, nơi cử hành công cuộc Phúc Âm Hóa cũng như nguồn đổi mới cuộc đời tận hiến của mình.

II. HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ VÀ CHUYỂN HƯỚNG

25. Tôi nhận thức rằng ngày nay người ta không còn quan tâm đến các tài liệu như trong quá khứ, và chúng sớm bị quên lãng. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng những gì tôi cố gắng diễn tả ở đây có một ý nghĩa cương lĩnh và những hậu quả quan trọng. Tôi hy vọng rằng tất cả các cộng đồng sẽ vận dụng những phương tiện cần thiết để tiến bước trên con đường chuyển hướng mục vụ và truyền giáo, mà không thể để mọi sự việc như hiện nay. “Chỉ quản trị thôi” là chưa đủ [21]. Trên khắp thế giới, chúng ta phải “thường xuyên ở trong tình trạng truyền giáo”. [22]
26. Đức Phao-lô VI mời gọi chúng ta hãy đào sâu lời mời gọi canh tân và hãy nhận thức rõ rằng canh tân không chỉ liên hệ đến các cá nhân mà còn toàn thể Giáo Hội. Chúng ta hãy trở lại bản văn đáng nhớ vẫn còn thách đố chúng ta: “Đã đến lúc Giáo Hội phải có một nhận định sâu xa về chính mình, phải suy gẫm về mầu nhiệm của mình, để tìm hiểu mình và giúp ích cho mình…Từ nhận định sáng suốt và hoạt động đó, nẩy ra ước vọng hồn nhiên là đem bộ mặt thực của Giáo Hội ngày nay đối chiếu với hình ảnh lsy tưởng của Giáo Hội như Chúa Ki-tô đã thấy, đã muốn và đã yêu như yêu hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Người (x. Ep 5:27). Nhờ thiên ân, bộ mặt của Giáo Hội vẫn trung thành với những nét mà Chúa Ki-tô đã khắc và Chúa Thánh Thần đã tô điểm thêm linh hoạt trải qua các thời đại, cho phù hợp một bên với quan niệm sơ khởi, một bên với bản tính loài người mà Giáo Hội có trách nhiệm rao giảng Tin Mừng cho; tuy nhiên, bộ mặt ấy không bao giờ hoàn toàn đủ, tốt đẹp đủ, thánh thiện và sáng chói đủ để phản chiếu đúng quan niệm Thiên Chúa về kiểu mẫu lý tưởng. Bởi đó sinh ra một ướcmuốn quảng đại, ra như không thể chịu được nữa là phải canh tân, nghĩa là phải sửa chữa các lầm lỗi, mà việc kiểm điểm đời sống dưới ánh sáng kiểu mẫu Chúa Ki-tô đã để lại, đang tố cáo và lên án” [23]. 
Công đồng Vaticanô II đã trình bày sự chuyển hướng của Giáo Hội như một sự mở ra cho một cuộc tự canh tân liên tục phát sinh từ lòng trung thành với Đức Giê-su Ki-tô: “Mọi việc canh tân Giáo Hội cốt yếu nhằm sống trung thành với ơn gọi của Giáo Hội hơn…Trên đường lữ hành, Giáo Hội được Chúa Ki-tô mời gọi canh tân luôn mãi, một sự canh tân mà Giáo Hội vì là một định chế nhân trần, bao giờ cũng cần đến”. [24]
Có những cơ cấu của Giáo Hội có thể cản trở nổ lực Phúc Âm Hóa, tuy nhiên ngay cả những cơ cấu tốt chỉ hữu ích khi có một sức sống lèo lai, nâng đỡ và hướng dẫn chúng. Nếu không có một sức sống mới và một tinh thần Tin Mừng đích thực, không có “sự trung thành của Giáo Hội với ơn gọi của mình”, thì bất kỳ cơ cấu mới nào cũng sẽ sớm chứng tỏ là không có hiệu quả.
Công cuộc canh tân Giáo Hội là cấp thiết.
27. Tôi mơ ước một “lựa chọn truyền giáo”, nghĩa là, một niềm phấn khởi truyền giáo có sức biến đổi mọi sự, ngỏ hầu những tập quán và những cách thế làm việc, thời gian và thời khóa biểu, ngôn từ và cơ cấu của Giáo Hội có thể trở nên những cách thế chuyển thông thích hợp cho công cuộc Phúc Âm Hóa của thế giới ngày nay, chứ không tự bảo toàn mình. Việc canh tân cơ cấu, mà việc chuyển hướng đòi hỏi, chỉ có thể được hiểu trong ánh sáng này: như một phần nỗ lực làm cho chúng có chiều hướng truyền giáo hơn, làm cho hoạt động truyền giáo thông thường trên mọi bình diện có tính bao quát hơn và rộng mở hơn, để khơi nguồn hứng khởi cho những người làm việc mục vụ biết thường hằng ước muốn ra đi và như thế thôi thúc lời đáp ứng tích cực từ những người mà Chúa Giê-su kêu mời kết nghĩa bằng hữu với Người. Như Đức Gioan Phaolô II đã nói với các Giám Mục Châu Đại Dương: “tất cả canh tân trong Giáo Hội phải nhắm đến truyền giáo, nếu không sẽ rơi vào nguy cơ của một loại Giáo Hội quy hướng về chính mình”. [25] 
28. Giáo xứ không là một định chế lỗi thời; chính xác là vì nó sở hữu một sự uyển chuyển lớn lao, nó có thể đảm nhận những vùng ngoại vi khá đa dạng, tùy thuộc vào tấm lòng rộng mở và đầu óc sáng tạo truyền giáo của vị mục tử và cộng đồng. Chắc chắn đây không là một định chế duy nhất loan báo Tin Mừng, nhưng nếu giáo xứ chứng tỏ là có khả năng tự canh tân và thường hằng thích nghi, nó tiếp tục là “Giáo Hội sống giữa những mái ấm gia đình của con trai con gái mình”. [26] Điều này giả thiết rằng giáo xứ thực sự giao tiếp với những gia đình và những cảnh sống của dân chúng chung quanh mình, và không trở thành một cơ cấu vô dụng tách biệt với dân chúng, hoặc một nhóm người ưu tuyển chỉ biết quan tâm đến mình. Giáo xứ là sự hiện diện của Giáo Hội trong một lãnh thổ được nói rõ, một môi trường để lắng nghe Lời Chúa, để lớn lên trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, công bố Tin Mừng, làm việc bác ái, thờ phượng và cử hành phụng tự. [27] Trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động của mình, giáo xứ khuyến khích và đào tạo các thành viên của mình thành những nhà truyền giáo. [28] Giáo xứ là một cộng đồng trong số các cộng đồng, một đền thánh nơi mà những người khát đến uống nước để tiếp tục cuộc hành trình, và là một trung tâm vươn ra truyền giáo. Nhưng chúng ta phải thú nhận rằng lời kêu gọi xét lại và canh tân các giáo xứ chưa đủ để đem chúng đến gần hơn với dân chúng, làm cho chúng thành môi trường hiệp thông và tham gia sống động, và toàn tâm toàn ý vào sứ vụ.
29. Những định chế khác của Giáo Hội: các cộng đoàn cơ bản và các cộng đoàn nhỏ, các phong trào và các hình thức hiệp hội, là nguồn phong phú cho Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần đào tạo cho những vùng và những khu vực truyền giáo đa dạng. Chúng thường mang lại lòng nhiệt thành cho công cuộc Tân Phúc Âm Hóa và một năng lực mới cho cuộc đối thoại với thế giới, nhờ đó Giáo Hội được canh tân. Nhưng những định chế này sẽ chứng tỏ là hữu ích khi không đánh mất mối giao tiếp với thực tại phong phú của giáo xứ địa phương, và sẵn sàng tham gia vào toàn bộ hoạt động mục vụ của Giáo Hội địa phương. [29] Loại hợp nhất này sẽ tránh cho chúng tập trung vào chỉ một phần Tin Mừng hay Giáo Hội, hoặc trở thành dân du mục không có cội nguồn.
30. Mỗi Giáo Hội địa phương, như một phần của Giáo Hội Công Giáo dưới quyền lãnh đạo của vị Giám Mục mình, cũng được mời gọi chuyển hướng truyền giáo. Đây là chủ thề hàng đầu của công cuộc Phúc Âm Hóa, [30] vì nó biểu hiện cụ thể Giáo Hội Duy Nhất ở một nơi đặc thù, và nơi đó “Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công Giáo và Tông Truyền của Chúa Kitô hiện diện và hành động thực sự”. [31] Đó là Giáo Hội nhập thể ở một nơi nhất định, được trang bị bằng tất cả các phương tiện cứu rỗi do Đức Ki-tô ban cho, nhưng với những đặc điểm địa phương. Niềm vui của Giáo Hội địa phương trong việc thông truyền Đức Giê-su Ki-tô được diễn tả ở nơi mối bận tâm rao giảng Người cho những vùng dân cư nghèo khổ hơn, cũng như trong việc thường hằng ra đi đến những ngoại vi lãnh địa mình, hướng đến những môi trường văn hóa xã hội mới. [32] Bất cứ nơi nào cần ánh sáng và sự sống của Đấng Phục Sinh hơn, thì Giáo Hội muốn ở đó. [33] Để thôi thúc công việc truyền giáo dốc toàn lực hơn, độ lượng hơn và hiệu quả hơn, tôi cũng khuyến khích mỗi Giáo Hội địa phương đảm nhận một tiến trình phân biệt, thanh luyện và cải tiến một cách kiên quyết.
31. Giám Mục phải luôn luôn cổ vũ sự hiệp thông truyền giáo này trong giáo phận của mình, theo lý tưởng của các cộng đồng Kitô hữu tiên khởi, trong đó các tín hữu tâm đầu ý hợp với nhau (Cv 4: 32). Để được như vậy, đôi khi ngài sẽ đi trước dân của mình, vạch rõ cách thế và nuôi dưỡng niềm hy vọng phấn chấn của họ. Lúc này, ngài đơn giản ở giữa họ với sự hiện diện đầy lòng xót thương và khiêm tốn của ngài. Lúc khác, ngài sẽ bước đi sau họ, để giúp đỡ những người bị bỏ lại đằng sau và - trên hết – cho phép đoàn chiên mạnh dạn bước đi trên những nẻo đường mới. Trong sứ vụ cổ vũ sự hiệp thông năng đ
Chia sẻ
Từ khóa

Ý kiến phản hồi